User Tools

Site Tools


start

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu đã “giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng” (Mt 13, 24-30) một cách thật rõ ràng và dễ hiểu.

657Chúa Giêsu cho biết rằng chính Ngài vừa là người “gieo” vừa là “hạt giống tốt” được gieo vào “ruộng là thế gian”, chính Ngài sẽ phải chết đi, bị chôn vùi dưới lòng đất để sinh nhiều “hạt giống tốt là con cái Nước Trời”. Chúa Giêsu dạy chúng ta cũng hãy theo gương Ngài mà trở nên hạt giống và người gieo giống như vậy, để làm cho Nước Trời được triển nở (x. Ga 12, 24). Đồng thời, Chúa Giêsu cho chúng ta biết “Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ”. Thật vậy, ma quỷ là kẻ thù truyền kiếp của Thiên Chúa, cũng như của nhân loại từ trong vườn địa đàng cho đến hôm nay và mãi đến ngày tận thế. Chúng luôn gieo rắc sự gian ác vào trong thế gian và trong lòng mỗi người. Vì thế, cũng như ông chủ mùa gặt không cho phép nhổ cỏ lùng khỏi ruộng lúa trước mùa gặt, Thiên Chúa, dù biết tác hại của sự dữ trong thế giới này, vẫn chấp nhận cho nó cùng tồn tại với sự lành cho đến ngày tận thế. Lý do của sự kiên nhẫn này là vì không muốn làm tổn hại đến sự lành khi tìm cách loại bỏ sự dữ. Tất cả những gì Thiên Chúa làm đều nhằm bảo vệ và vì lợi ích của những người lành.

Kinh nghiệm thực tế cuộc sống cho thấy rằng người lành kẻ dữ, người công chính và kẻ tội lỗi vẫn sống chung với nhau. Con người ta cũng thường hay thay đổi, lúc thì là lúa tốt, lúc lại là cỏ lùng… Tình trạng bấp bênh, không rõ ràng ấy chúng ta thường thấy có trong Hội Thánh, trong xã hội, trong bất cứ đoàn thể nào và trong mỗi cá nhân: hai yếu tố tốt và xấu, lành và dữ, như lúa tốt và cỏ lùng luôn luôn tranh chấp, giành giật ảnh hưởng lẫn nhau. Bao lâu còn sống ở trần gian, không ai có thể phân định rõ ràng dứt khoát được. Nhưng đến “mùa gặt là ngày tận thế”, khi mà các “thợ gặt là các thiên thần” sẽ dễ dàng phân biệt cỏ lùng với lúa tốt. Sự dữ như cỏ lùng, dù có giống lúa đến mấy, cũng không thể lẩn tránh hoặc che dấu thân phận thật của mình trong ngày tận thế khi đứng trước sự soi xét công minh của Thiên Chúa. Và khi ấy sẽ có quyết định dứt khoát, bất di bất dịch về số phận đời đời của chúng: “Cũng như người ta thu lấy cỏ lùng, rồi thiêu đốt trong lửa thế nào, thì ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy: Con Người sẽ sai các thiên thần đi thu tất cả gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác khỏi nước Chúa, rồi ném tất cả chúng vào lửa: ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng”. Còn những người lành như lúa tốt khi phải sống chung với cỏ lùng, bị thiệt thòi, cay đắng, ngột ngạt, nhưng rốt cuộc sẽ được ân thưởng xứng đáng trong ngày sau hết: “Bấy giờ kẻ lành sẽ sáng chói như mặt trời trong nước của Cha mình” .

Dụ ngôn làm nổi bật sức sống mãnh liệt của hạt giống Nước Trời, một khi đã được Thiên Chúa gieo vãi vào thế gian này sẽ lớn lên và đơm bông kết hạt bất chấp những cản trở, phá hoại do ma quỷ là kẻ cầm đầu và gây ra mọi sự gian ác. Mặc dù đôi khi có thể bị chèn ép bởi thế lực của sự dữ, như lúa phải sống chung với cỏ lùng trong ruộng, nhưng không có sức mạnh nào có thể ngăn cản hay bóp nghẹt sức sống và sự lớn mạnh của Nước Trời. Những giá trị tốt lành của Nước Trời rồi sẽ chiến thắng trong ngày tận thế, dù trong hiện tại có thể phải trải qua nhiều khó khăn, thử thách. Tất cả đều không nằm ngoài sự quan phòng nhiệm mầu và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Ngài thấu biết mọi sự và vẫn kiên nhẫn đợi chờ để hạt giống Nước Trời sinh hoa trái dồi dào, và được thu vào kho lẫm của Ngài trong mùa gặt sau hết.

Lạy Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và luôn kiên nhẫn đối với con người. Trong một thế giới xen lẫn giữa ánh sáng và bóng tối, sự thiện và sự ác, điều tốt và điều xấu, Chúa vẫn mong muốn và đợi chờ chúng con trở nên như lúa tốt, để góp phần vào việc làm tăng trưởng Nước Trời nơi trần gian. Xin Chúa thương ban tặng Thánh Thần, để Người thúc đẩy chúng con hoán cải và không ngừng biến đổi nên tốt lành như lòng Chúa ước mong. Amen.Khiêm nhường là một đức tính cao đẹp của con người. Sự khiêm nhường được thể hiện qua từng cử chỉ, lời nói và hành động mà người khác có thề cảm nhận được sự chân thật của mình. Khiêm nhường giúp ta sống tích cực, làm phong phú thêm kiến thức, kinh nghiệm tạo được uy tín, lòng tin và sự quí mến của mọi người. Riêng đối với người Kitô hữu, khiêm nhường là nhân đức tối cần để ơn Chúa Thánh Thần được hoạt động và trổ sinh hoa trái. Đặc biệt khiêm nhường còn là con đường để con người đến với Thiên Chúa và tha nhân.

venite a meThật thế, Thiên Chúa của chúng ta vô cùng cao cả và quyền năng nhưng cũng là một Thiên Chúa vô cùng khiêm nhường. Vì khiêm tốn nên Thiên Chúa đã ẩn mình hoàn toàn trong vô hình, trong sự bé nhỏ, nghèo hèn đến độ bị con người quên lãng và nghi ngờ cả về sự hiện diện của Ngài. Vì khiêm nhường nên Ngài cũng trở nên hoàn toàn im lặng trước mọi thái độ của con người. Vì khiêm nhường nên Ngài đã chấp nhận tự hủy, cúi xuống trên thân phận con người. Ngài đã cúi xuống đến tận cùng của vực thẳm là tội lỗi con người để nâng đỡ, để cứu vớt, để thứ tha. Sự khiêm nhường tột cùng của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, qua mầu nhiệm nhập thể và cứu chuộc của Người. Thiên Chúa thật khiêm nhường nên chỉ những ai khiêm nhường mới gặp được Thiên Chúa, đón nhận được sự an ủi, nâng đỡ của Ngài.

Nhưng thế nào là khiêm nhường và làm thế nào để chiếm thủ nhân đức ấy?

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã đưa ra một định nghĩa rất ngắn gọn và dễ hiểu: “Khiêm nhường là sự thật” mà Thiên Chúa là Sự Thật nên chỉ khi nào sống thật chúng ta mới gặp được Thiên Chúa. Mặt khác, theo thánh Phaolô sự thật còn là: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh? Nếu đã nhận lãnh, tại sao lại vênh vang như không nhận lãnh” (1 Cr 4,7). Chỉ có một điều duy nhất ta không nhận lãnh từ Thiên Chúa đó là tội lỗi. Do đó cần nhìn nhận sự thật về mình: chẳng là gì, chẳng có gì và chẳng làm được gì lúc đó chúng ta mới cần đến ơn Chúa và cảm thông với tha nhân. Thánh Phaolô đã khuyên chúng ta: “ Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức, mỗi người tùy theo lượng đức tin Thiên Chúa phân phát cho. Đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12 3,16). Thực ra đây không phải là lời khuyên về sự chừng mực, vừa phải nhưng đúng hơn Thánh Phao lô muốn mở ra một chân trời rộng lớn hơn về sự khiêm nhường. Khiêm nhường chính là con đường để mỗi người đến với tha nhân. Một khi đã sống khiêm nhường, đã nhìn nhận sự thật về bản thân, sự thật về sự yếu đuối của mình chúng ta dễ dàng cảm thông, tha thứ và đón nhận nhau hơn. Ý thức được khiêm nhường là nhân đức nền tảng và là yếu tố cần thiết cho đời sống người Ki tô hữu nên Chúa Giêsu mới tha thiết mời gọi chúng ta: “ Anh em hãy học với Tôi, vì Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11, 29).

Để có lòng hiền hậu và khiêm nhường như Đức Giêsu, chúng ta cần cầu xin ơn khiêm nhường mỗi ngày, chân thành nhận biết bản thân, tôn trọng tha nhân, đặc biệt chấp nhận chịu xỉ nhục như Đức Giêsu – “Đấng chịu sỉ nhục vĩ đại”. Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác quyết: khiêm nhường là chấp nhận những sỉ nhục. Khiêm nhường mà không có sự sỉ nhục thì không phải là khiêm nhường.

Lạy Chúa Giêsu, ai trong chúng con cũng thích sống với người khiêm nhường nhưng lại chẳng mấy ai yêu mến và cố gắng chiếm thủ nhân đức khiêm nhường. Xin cho chúng con luôn hướng về Chúa, chiêm ngắm mẫu gương khiêm nhường thẳm sâu của Chúa hầu mỗi ngày chúng con sống thật với Chúa, với mình và với mọi người hơn hầu con được tiến đến gần Chúa và tha nhân, được Chúa dưỡng nuôi và bổ sức hầu mọi gánh nặng của chúng con được chia san và hạnh phúc được đong đầy. Amen.Như là các lời thơ, Thánh Vịnh đã diễn tả lòng thương xót của Thiên Chúa rất đẹp và phong phú. Ở đây trong phạm vị hạn hẹp, chúng ta chỉ có thể đọc một số Thánh Vịnh:“Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời“ (Tv 23,6). “Tất cả đường lối Chúa đều là yêu thương và thành tín đối với những kẻ nào giữ giao ước và lề luật Chúa”(Tv 25,10). “Lạy Chúa, tình thương Ngài cao ngất trời xanh, lòng thành tín vượt ngàn mây biếc” (Tv 36, 6). “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103, 8). “Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn” (Tv 103,13). Kế bên các Thánh Vịnh tôn vinh lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta còn thấy những lời kêu xin lòng thương xót Chúa: “Lạy Thiên Chúa là đèn trời soi xét, khi con kêu, nguyện Chúa đáp lời. Lúc ngặt nghèo, Chúa đã mở lối thoát cho con, xin thương xót nghe lời con cầu khẩn” (Tv 4,2). Đặc biệt cần nhắc đến Thánh Vịnh 51 của Vua Đa-vít diễn tả sự ăn năn hối cải về tội lỗi ông đã phạm với bà Bát-se-va, vợ của ông U-ri-a:

“Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,

mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.

Xin rửa con sạch hết lỗi lầm

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy.

Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm” (Tv 51, 3-5).

Sau lời kêu van lòng thương xót của Chúa, là các lời tri ân Chúa đã thương xót dân Ngài:“Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 106, 1), vì “Chúa cứu họ khỏi tay người ghen ghét, giải thoát họ khỏi tay địch thù” (Tv 106,10). Đặc biệt trong Thánh Vịnh 136, lời tạ ơn Chúa Đấng giàu lòng xót thương được nhắc đi nhắc lại đến 26 lần: Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Với Thánh Vịnh 136, tác giả muốn mời gọi chúng ta hãy cảm tạ Gia-vê, vì Người tốt lành, vìmuôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương! Hãy cảm tạ Chúa của cả chư thần, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương! Hãy cảm tạ Chúa của các Chúa, vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Dân Ít-ra-en hát lên lời tạ ơn trong dịp đại lễ Vượt Qua, kể lại tất cả những kỳ công Thiên Chúa từ lúc tạo dựng cho đến khi giải phóng và ngày ngày vẫn chăm sóc cho họ. Mỗi kỳ công được kèm theo một điệp khúc đơn điệu nhưng đầy ý nghĩa: muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương…

Nếu nhìn lại đời mình, chúng ta thấy lòng thương xót Chúa đã trải dài trong cuộc đời chúng ta, ngay khi chúng ta lọt lòng Mẹ cho đến giây phút hiện tại, và cả trong tương lai đang chờ đón chúng ta, lòng thương xót cũng sẽ đồng hành với chúng ta. Chúa đã cho con vào đời,vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Chúa đã cho con sinh ra trong một gia đình ấm cúng đầy yêu thương, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Chúa đã dạy con xưng tụng Thánh Danh Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Chúa mở Thánh Kinh của Chúa cho con, để qua đó con khám phá ra Chúa yêu thương con dường nào, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Chúa đã cho phép con thờ lạy Chúa, và mời gọi con đến phụng sự Chúa, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Chúa đã gọi con trở thành môn đệ, trở thành bạn thân của Chúa, dù con bất xứng và tội lỗi, vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Giờ đây, trong sự tĩnh lặng của cõi lòng, con ôn lại những giờ phút chỉ có Chúa và con biết được, những giờ phút hạnh phúc và thân ái, những giờ phút buồn phiền và sám hối, những giờ phút xót thương và ân sủng. Con thấy cuộc đời con như được biến thành một lời kinh, những ký ức của con như biến thành một kinh cầu diễm ái, và lịch sử của con như biến thành một Thánh Vịnh. Sau mọi biến cố, lớn nhỏ, vui buồn, chung riêng, là một câu thơ điệp khúc nói lên ý nghĩa của tất cả và liên kết cuộc đời con thành một hoạt động của ơn quan phòng Thiên Chúa: Vì tình yêu và lòng thương xót của Chúa miên man vạn đại và từ đời này đến đời kia Chúa vẫn thế, Đấng yêu thương chúng con vô vàn. “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.[1]

Như thế, sứ điệp lòng thương xót của Thiên Chúa trải dài trong Cựu Ước. Các tác giả luôn luôn nhắc lại rằng, Thiên Chúa giàu lòng xót thương đã kìm hãm cơn giận dữ của Ngài, và luôn ban ân huệ cho dân bất tín và bội trung, để dân của Ngài có thêm cơ hội mà ăn năn sám hối trở về. Thiên Chúa giàu lòng xót thương cũng là Đấng che chở, Đấng gìn giữ, Đấng bênh đỡ những người nghèo khổ và yếu đuối, những người bất hạnh và nhỏ bé không được xã hội chú ý tới. Trong các Thánh Vịnh, Thiên Chúa đã được ca tụng là Đấng giàu lòng xót thương, và muôn người cần ý thức mỗi ngày cao rao lời tri ân cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.

Cựu Ước đóng lại, nhưng không phải là kết thúc, Cựu Ước sẽ tìm được sự trọn vẹn của mình ở trong Tân Ước. Và trong Giao Ước mới này, Thiên Chúa giàu lòng xót thương được biểu lộ cụ thể qua chính Chúa Giê-su, con yêu dấu của Cha trên trời, mà vì yêu thương Cha đã ban tặng cho nhân loại chúng ta, để Chúa Giê-su loan báo cho chúng ta Tin Mừng mà muôn người cần đế. Đó là sứ điệp của lòng thương xót.[2]

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ

[1] X. VALLES C.G. SJ, Psalm for contemplation – Thánh Vịnh để chiêm niệm, Loyola Presse, Chicago 1998, bản tiếng việt do Ngọc Đính CMC. chuyển ngữ năm 2005, t.447-448.

[2] X. KASPER W., Barmherzigkeit, t. 64-66.

start.txt · Last modified: 2018/11/23 07:51 by lordneo